Quy hoạch phát triển KT-XH

Các giải pháp thực hiện quy hoạch tổng thế phát triển KT - XH huyện Đông Anh đến năm 2020
Ngày đăng 02/10/2017 | 10:43  | View count: 1608

Các giải pháp thực hiện quy hoạch tổng thế phát triển KT - XH huyện Đông Anh đến năm 2020

CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY HOẠCH TỔNG THỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐÔNG ANH ĐẾN NĂM 2020

 

1.1 - GIẢI PHÁP PHÁT HUY TỐT CÁC YẾU TỐ TIỀM NĂNG VÀ NGUỒN LỰC CHO PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN, BỀN VỮNG KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN ĐÔNG ANH

1 .1.1. Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và giải quyết việc làm

a- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực:

Theo dự báo, đến năm 2020 dân số trên địa bàn huyện Đông Anh khoảng 457.800 người, trong đó lực lượng lao động khoảng 265.000 người (chiếm khoảng 57,5% tổng dân số). Trong đó lao động trong lĩnh vực công nghiệp chiếm 45%; lao động trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ chiếm 30% và lao động nông nghiệp giảm xuống còn chiếm 25%.

Để đảm bảo nguồn lao động nêu trên có chất lượng, cơ cấu hợp lý trong từng ngành nghề, lĩnh vực, đáp ứng tốt cho cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội huyện Đông Anh giai đoạn 2011-2020 thì cần tập trung đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực tại chỗ và thu hút chất xám, nguồn nhân lực chất lượng cao vào quá trình phát triển trên địa bàn huyện. Phấn đấu tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60% vào năm 2015 và đạt trên 70% năm 2020.

Các yêu cầu đối với công tác đào tạo nghề cho lực lượng lao động:

- Đào tạo nghề cho lao động (với Đông Anh hiện nay chủ yếu là lao động nông thôn) phải xuất phát từ nhu cầu sử dụng lao động thật sự của các doanh nghiệp trên địa bàn; đồng thời dựa trên nhu cầu thực tế về nghề nghiệp của người dân, chứ không phải là các hoạt động có tính phong trào, nhất thời. Vì vậy, cần nắm chắc được các nhu cầu (theo từng nghề, nhóm nghề, vị trí công việc...) của người dân ở từng xã và trên toàn huyện và của doanh nghiệp, thông qua điều tra khảo sát nhu cầu.

- Cần phải có sự "vào cuộc" của cả hệ thống chính trị ở địa phương. Thực tế thời gian vừa qua cho thấy, ở địa phương nào có sự quan tâm của cấp ủy đảng, sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền và sự tham gia tích cực của các tổ chức chính trị - xã hội... thì ở địa phương đó công tác dạy nghề cho lao động nông thôn đạt được kết quả mong muốn.

- Do tính đa dạng và tính đặc thù của người nông dân và lao động nông thôn (trình độ học vấn không đều, lao động theo mùa vụ, thói quen canh tác...), nên việc tổ chức các khóa đào tạo phải rất linh hoạt về chương trình đào tạo, hình thức đào tạo, phương thức đào tạo, phương pháp truyền đạt...

- Đào tạo nghề cho lao động nông thôn phải gắn với giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động, gắn với giảm nghèo và góp phần bảo đảm an sinh xã hội ở nông thôn; gắn với xây dựng nông thôn mới. Vì vậy, trong quá trình thực hiện, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp.

Một số giải pháp đào tạo  nghề, phát triển nguồn nhân lực trên địa bàn huyện Đông Anh:

- Đổi mới tổ chức đào tạo nghề, phát triển nguồn nhân lực theo hướng tập trung nâng cao chất lượng đào tạo, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn sử dụng và từng bước ưu tiên tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng nhân tài. Xã hội hoá, thu hút đầu tư xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ, đa cấp, năng động, liên thông giữa các cấp và các ngành đào tạo trong nước và quốc tế. Tập trung xây dựng và phát triển các cơ sở đào tạo nghề chất lượng cao đạt trình độ (trước hết là các ngành nghề trọng điểm mũi nhọn theo quy hoạch phát triển của huyện và thành phố).

- Triển khai phương thức dạy nghề tại chỗ cho lao động khu vực nông thôn. Theo đó, cần tăng cường đào tạo các ngành nghề mới gắn với tiềm năng và thực tế phát triển kinh tế ở địa phương. Chẳng hạn như đào tạo, hướng dẫn trồng hoa, trồng và thu hoạch rau an toàn; nuôi ba ba, lợn rừng, cá; chế biến thực phẩm... Việc xác định và đào tạo đúng những ngành nghề cần thiết và phù hợp với địa phương sẽ đem lại hiệu quả lớn. Một điểm quan trọng cần lưu ý là địa phương phải dự báo chính xác thị trường lao động, nhu cầu học nghề để từ đó các cơ quan quản lý đưa ra quy hoạch, kế hoạch đào tạo phù hợp với từng xã, vùng, chuẩn hóa chương trình đào tạo. Mục tiêu để người học phải được tư vấn nghề, được thông tin nghề nào ở địa phương đang có nhu cầu, tránh tình trạng học xong mà không có việc làm. Hay nói cách khác là người học phải biết được nhu cầu việc làm ở địa phương; biết được chính sách và nhiệm vụ của người đi học; biết được khi học xong thì cơ hội việc làm ở địa phương mình như thế nào.

- Phát động và thường xuyên duy trì phong trào học tập văn hóa, học tập nghề nghiệp trong toàn dân, đặc biệt là trong thanh niên để họ có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, tìm được các việc làm phi nông nghiệp trên địa bàn hoặc ở các nơi khác ngoài huyện.

- Phát triển các trung tâm dạy nghề tại trung tâm huyện và các khu công nghiệp. Khuyến khích phát triển các cơ sở đào tạo nghề tư nhân.

b- Tập trung giải quyết việc làm:

Trong quá trình đô thị hoá, nhu cầu về việc làm là rất lớn do đất nông nghiệp dần dần bị thu hẹp. Theo dự báo, trong giai đoạn 2011-2020, bình quân mỗi năm Đông Anh phải chuyển đổi khoảng 350-400ha từ đất nông nghiệp sang đất đô thị. Như vậy, bình quân mỗi năm có khoảng 5.500-6.500 lao động nông nghiệp cần được chuyển đổi nghề nghiệp, tạo việc làm mới ngoài khu vực nông nghiệp. Đây là vấn đề rất lớn cần được quan tâm giải quyết để đảm bảo ổn định đời sống cho người dân và trật tự xã hội trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá.

Định hướng cơ bản để giải quyết việc làm, nhất là cho lao động dôi dư từ khu vực nông nghiệp là tập trung phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp (trong giai đoạn đầu) và phát triển công nghiệp, dịch vụ (trong giai đoạn sau) để thu hút lực lượng lao động này. Đồng thời, tìm kiếm các thị trường lao động trong và ngoài nước để giải quyết việc làm cho người lao động của huyện.

Cần thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường lao động trên địa bàn huyện. Tổ chức tốt mạng lưới thông tin, tư vấn giới thiệu việc làm và cung ứng lao động. Người lao động cần nắm bắt nhu cầu lao động của các khu/cụm công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề. Để chủ động cho việc tìm kiếm nguồn cung cấp lao động cần coi trọng các hình thức như hội chợ việc làm, chọn cử lực lượng để đào tạo nghề trong số lao động nông thôn thuộc diện ưu đãi sẽ tuyển dụng vào làm cho các doanh nghiệp do bị thu hồi đất. Tạo điều kiện thuận lợi về đăng ký hộ khẩu, mua nhà ở... cho lao động nhập cư từ nơi khác đến làm việc lâu dài tại địa phương.

1 .1.2. Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư

Để đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội huyện Đông Anh đến năm 2020 theo các mục tiêu, định hướng như dự kiến ở các phần trên, nhu cầu vốn đầu tư xã hội là khá lớn. Tổng nhu cầu vốn đầu tư cho cả giai đoạn 2011-2020 là 40.500 tỷ đồng, bình quân mỗi năm 4.050 tỷ đồng. Giai đoạn 2011-2015 cần nhu cầu vốn 13.950 tỷ đồng, bình quân 2.790 tỷ đồng/năm; giai đoạn 2016-2020 cần nhu cầu vốn 26.550 tỷ đồng, bình quân 5.300 tỷ đồng/năm.

Bảng  1 .1: Dự báo nhu cầu và khả năng huy động vốn đầu tư

 

Giai đoạn 2011-2015

Giai đoạn 2016-2020

 

Tổng vốn

Bình quân năm

Tổng vốn

Bình quân năm

Nhu cầu đầu tư (nghìn tỷ đồng)

13.950

2.790

26.550

5.300

Cơ cấu vốn đầu tư theo nguồn

 

 

Vốn Ngân sách NN

20%

18%

Vốn ngoài nhà nước

65%

62%

Vốn đầu tư nước ngoài

15%

20%

 

Nhằm đáp ứng nhu cầu khối lượng vốn đầu tư lớn cho quy hoạch phát triển huyện đến năm 2020 như trên, phương châm cơ bản là phải huy động mọi nguồn vốn có thể, bao gồm: vốn ngân sách nhà nước, vốn thu hút từ các doanh nghiệp và vốn trong dân, vốn đầu tư nước ngoài.

* Nguồn vốn ngân sách nhà nước:

Nguồn vốn ngân sách nhà nước đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội trên địa huyện Đông Anh chiếm khoảng 20% tổng nhu cầu vốn trong giai đoạn 2011-2015 và chiếm khoảng 18% tổng nhu cầu vốn trong giai đoạn 2016-2020. Nguồn này bao gồm:

- Nguồn vốn đầu tư của ngân sách trung ương và thành phố trực tiếp đầu tư cho các dự án trên địa bàn huyện.

- Nguồn vốn ngân sách huyện dành cho đầu tư phát triển.

- Nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất. Mặc dù thời gian vừa qua thị trường bất động sản bị trầm lắng và suy giảm nhưng nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất vẫn là nguồn rất tiềm năng và có thể huy động được lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triển của Đông Anh trong thời kỳ quy hoạch giai đoạn 2011-2020. Cần có kế hoạch tranh thủ khai thác nguồn vốn này.

Nguồn vốn ngân sách sẽ được sử dụng tập trung chủ yếu cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội, đầu tư hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, ứng dụng thử nghiệm tiến bộ khoa học kỹ thuật mới. Để sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách cho đầu tư phát triển, cần đổi mới cơ chế đầu tư công, không đầu tư tràn lan, dàn trải. Cần lựa chọn các công trình đầu tư trọng điểm hàng năm và trong mỗi giai đoạn để đầu tư dứt điểm nhằm nhanh chóng đưa công trình vào sử dụng, phát huy hiệu quả kinh tế - xã hội của công trình/dự án.

* Nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp và vốn trong dân:

- Đây là nguồn vốn tiềm tàng rất lớn có thể huy động cho đầu tư phát triển kinh tế huyện, nếu như có hình thức huy động với cơ chế thích hợp. Dự kiến nguồn vốn này sẽ chiếm từ 62-65% tổng nguồn vốn đầu tư trên địa bàn huyện Đông Anh.

Khả năng huy động vốn của các doanh nghiệp và vốn trong dân nói chung phụ thuộc vào xu hướng và và cơ hội phát triển các ngành, đặc biệt là các ngành thương mại, dịch vụ, xây dựng đô thị trên địa bàn huyện, trên cơ sở thúc đẩy nhanh sự hình thành các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp làng nghề.

- Đối với các nguồn vốn của doanh nghiệp: đẩy nhanh việc đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng của các khu công nghiệp, trong đó quan trọng nhất là hạ tầng điện, nước và giao thông để thu hút các doanh nghiệp đến đầu tư kinh doanh, lấp đầy các khu công nghiệp, các cụm công nghiệp làng nghề trên địa bàn huyện.

Xúc tiến thu hút đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại, dịch vụ trên địa bàn huyện, đặc biệt là tại Thị trấn Đông Anh và các khu vực trung tâm huyện; các khu thương mại dịch vụ ở các khu công nghiệp, cụm công nghiệp làng nghề.

- Đối với nguồn vốn trong dân: Hiện nay mức thu nhập và khả năng tích lũy tái đầu tư cho phát triển kinh tế từ sức dân đã cao hơn. Để huy động nguồn vốn trong dân cho đầu tư phát triển, cần chú ý các hình thức đa dạng:

+ Huy động vốn góp cổ phần, dưới các hình thức kinh doanh đa dạng trong mọi lĩnh vực kinh tế, thương mại dịch vụ.

+ Phát hành trái phiếu công trình do thành phố thực hiện.

+ Thực hiện các công trình đầu tư chuyển đổi nghề nghiệp đối với các đối tượng có lượng tiền lớn từ đền bù thu hồi đất giải phóng mặt bằng.

+ Mở rộng hình thức đầu tư BOT, BT.

+ Đẩy mạnh thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, thu hút các nguồn vốn của doanh nghiệp và nhân dân đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển ngành nghề sản xuất kinh doanh trong khu vực nông nghiệp nông thôn của huyện.

* Nguồn vốn đầu tư nước ngoài:

Nguồn vốn đầu tư nước ngoài dự kiến chiếm 15% tổng vốn đầu tư trên địa bàn huyện giai đoạn 2011-2015 và tăng lên 20% giai đoạn 2016-2020 khi tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá trên địa bàn huyện được đẩy mạnh.

- Nguồn vốn FDI: thu hút vốn FDI đầu tư vào Khu công nghiệp Đông Anh, vào thực hiện liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp hiện có trên địa bàn huyện. Định hướng thu hút FDI đầu tư vào các ngành công nghiệp công nghệ cao, các dịch vụ cao cấp và phát triển đô thị trên địa bàn huyện.

- Nguồn vốn ODA của Chính phủ, đặc biệt là các nguồn vốn của các tổ chức đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng, cải tạo bảo vệ môi trường, duy tu các công trình văn hóa, lịch sử...

1 .1.3. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đời sống

Trong điều kiện ngày nay, tiến bộ khoa học công nghệ là nền tảng của sự phát triển bền vững và tăng trưởng với tốc độ cao. Bởi vậy, coi trọng việc tiếp thu ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế và đời sống cần được quán triệt ở mọi cấp mọi ngành từ huyện đến xã và mọi người dân.

Để việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống phù hợp với định hướng cơ cấu kinh tế đã lựa chọn trong thời kỳ quy hoạch, huyện cần chú ý một số vấn đề sau:

- Hướng ưu tiên chuyển giao và tiếp thu tiến bộ khoa học công nghệ mới: trước hết là cho các sản phẩm mũi nhọn và các khâu đột phá. Cụ thể là: áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất hoa, rau, cây giống ở khu vực Vân Nội, Nam Hồng; chăn nuôi; sản phẩm đồ gỗ cao cấp ở Vân Hà, Liên Hà; một số sản phẩm dịch vụ ở khu vực trung tâm huyện...

- Nguồn tiếp thu và chuyển giao công nghệ: chú ý nguồn sẵn có trên địa thành phố (các trường đại học, viện nghiên cứu). Ngoài ra cần coi trọng những công nghệ mới từ nước ngoài có thể chuyển giao áp dụng vào các lĩnh vực sản xuất và dịch vụ trên địa bàn huyện.

- Lựa chọn các loại hình công nghệ: tùy theo từng lĩnh vực sản xuất kinh doanh là công nghiệp, nông nghiệp hay thương mại dịch vụ sẽ có cách lựa chọn công nghệ thích hợp: công nghệ thủ công truyền thống, công nghệ kết hợp thủ công với hiện đại hay công nghệ hiện đại. Về nguyên tắc, việc lựa chọn và áp dụng công nghệ cụ thể nào đó sẽ do doanh nghiệp quyết định. Ở đây vai trò của huyện là tuyên truyền giới thiệu, quảng bá công nghệ, định hướng trình độ công nghệ cho từng lĩnh vực hay từng ngành, có biện pháp ngăn chặn hay hạn chế áp dụng những công nghệ được cho là lỗi thời hay dễ gây hậu quả làm nguy hại đến môi trường...

- Cần có cơ chế chính sách ổn định và công khai nhằm khuyến khích việc áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ mới đối với những lĩnh vực ưu tiên. Ví dụ ưu đãi đầu tư cho việc nghiên cứu, triển khai, ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ mới; trợ giúp một phần hay toàn bộ kinh phí cho những dự án đặc biệt.

- Khuyến khích mạnh mẽ các tổ chức khuyến nông, khuyến công, khuyến thương dưới mọi hình thức trên địa bàn.

1 .1.4. Thúc đẩy mở rộng thị trường

Để tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, thị trường có vai trò rất quan trọng, bao gồm cả thị trường nguyên liệu đầu vào và thị trường sản phẩm đầu ra. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và trong khuôn khổ các cam kết WTO hiện nay, việc tìm kiếm, khai thác và mở rộng thị trường cần hướng tới cả thị trường quốc tế và thị trường nội địa, gồm thị trường vùng, thị trường nội thành và thị trường trên địa bàn huyện.

Đối với thị trường quốc tế, hiện nay Đông Anh đã có một số sản phẩm vươn ra thị trường quốc tế và khu vực như sản phẩm may mặc, đồ gỗ, cơ khí... Để mở rộng thị trường đối với các sản phẩm xuất khẩu hiện có, huyện cần có các hỗ trợ thích hợp cho các hoạt động quảng bá giới thiệu sản phẩm như: trưng bày sản phẩm có các thông tin quảng cáo giới thiệu đi kèm tại các khách sạn, điểm du lịch có nhiều khách quốc tế lui tới; hỗ trợ cho các loại sản phẩm độc đáo hay sản phẩm có chất lượng cao tham gia các hội chợ trong nước và nước ngoài; có quan hệ mật thiết và thường xuyên trao đổi thông tin với các tổ chức xúc tiến thương mại trong nước hay quốc tế, với đại diện thương mại Việt Nam ở nước ngoài; khai thác và phát huy mối quan hệ với các Việt kiều hoặc những người con quê hương đi công tác và học tập ở nước ngoài để tìm kiếm các mối quan hệ đối tác cung ứng và tiêu thụ các sản phẩm cho Huyện.

Đối với thị trường trong nước: cần phát huy lợi thế về giao thông giữa huyện với thị trường của các tỉnh để tăng cường trao đổi sản phẩm, phát triển ngành thương mại dịch vụ của huyện. Nhanh chóng chuyển đổi hiệu quả mô hình quản lý, kinh doanh và khai thác các chợ trên địa bàn huyện; tổ chức tốt mạng lưới đại lý, các cửa hàng tiêu thụ sản phẩm của huyện trong nội thành, đặc biệt là đối với nông sản như rau sạch, hoa, cây cảnh...

Trong mọi trường hợp kể cả thị trường trong nước và quốc tế, muốn tìm kiếm và mở rộng thị trường đạt kết quả vững chắc, các sản phẩm của huyện cần có được thương hiệu và đăng ký thương hiệu trên thị trường, mà trước hết là đối với các sản phẩm chủ lực của huyện như nông sản, đồ gỗ, sản phẩm cơ khí...

Bên cạnh đó, cần tăng cường quản lý thị trường nhằm ổn định về giá cả và đảm bảo văn minh thương mại. Phát hiện và xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm trong thương mại: gian lận hàng hoá, nhã mác, hàng cấm, hàng lậu,...

1 .1.5. Phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế

Thu hút các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp trong và ngoài nước, các tổ chức và doanh nhân đầu tư phát triển và nâng cao hiệu quả sản xuất - kinh doanh trên tất cả các lĩnh vực theo quy định của pháp luật.

Khuyến khích, tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư vào Huyện. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp vừa và nhỏ ra đời và phát triển. Phát triển mạnh các hộ kinh doanh cá thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân. Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài.

Quan tâm, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp và các làng nghề đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Huyện.

Đổi mới, củng cố quan hệ sản xuất trong nông thôn, tiếp tục nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể. Khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể đa dạng về hình thức sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, bao gồm các tổ hợp tác, hợp tác xã kiểu mới. Triển khai các biện pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã, khuyến khích phát triển các loại hình hợp tác xã trong nông thôn. Khuyến khích việc tăng vốn góp và các nguồn vốn huy động từ thành viên để tăng nguồn vốn hoạt động của hợp tác xã, tăng vốn đầu tư phát triển, tăng tài sản và quỹ không chia trong hợp tác xã. Hỗ trợ phát triển các mô hình kinh tế trang trại trên địa bàn.

Tập trung xây dựng các cơ chế chính sách để thúc đẩy giải phóng sức sản xuất và các nguồn lực xã hội, đồng thời đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng, có tính cạnh tranh cao. Có cơ chế chính sách đảm bảo vừa phù hợp với quy định chung của Nhà nước và thành phố, vừa phù hợp với thực tiễn địa phương, vừa thuận tiện cho cả chủ thể và đối tượng quản lý, tạo hành lang phát triển mạnh kinh tế thị trường theo hướng lành mạnh, văn minh.

1.2 - GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH, NÂNG CAO HIỆU LỰC QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CỦA CHÍNH QUYỀN CÁC CẤP

1 .2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Thực tiễn và những bài học kinh nghiệm đã chỉ ra vai trò của Đảng có ý nghĩa then chốt trong lãnh đạo, chỉ đạo quá trình phát triển toàn diện, bền vững kinh tế - xã hội ở các địa phương.

Đảng lãnh đạo thông qua các phương thức hay thể hiện trên các mặt chủ yếu: đề ra chủ trương, định hướng phát triển; tổ chức cán bộ; kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện. Để tiếp tục phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng thì cần đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và nêu cao tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Các giải pháp cụ thể cần thực hiện:

a- Tiếp tục đổi mới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên:

Cần tiếp tục đổi mới, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị tư tưởng; chú trọng bồi dưỡng nhận thức về chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hội nhập kinh tế quốc tế, về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...

Thường xuyên giáo dục, rèn luyện đạo đức, lối sống cho đội ngũ cán bộ, đảng viên; đưa việc học tập, vận dụng và làm theo tư tưởng, đạo đức, tác phong Hồ Chí Minh vào nền nếp trong sinh hoạt Đảng và tu dưỡng rèn luyện của Đảng viên. Đấu tranh phê phán những quan điểm sai trái, các biểu hiện mơ hồ, phai nhạt lý tưởng, sa sút phẩm chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên, tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng bộ huyện, các đảng bộ, chi bộ cơ sở và sự đồng thuận trong nhân dân, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước mà cụ thể là nhiệm vụ thực hiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện đến năm 2020.

Thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng công tác quán triệt và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Gắn việc quán triệt với xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết cho phù hợp, sát với tình hình của huyện và cơ sở. Thống nhất tư tưởng, hành động, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, bộ máy làm công tác tuyên truyền từ huyện đến cơ sở có phẩm chất và năng lực ngang tầm nhiệm vụ.

Đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, khoá XI về xây dựng Đảng trong các cấp uỷ và toàn Đảng bộ huyện. Thực hiện có hiệu quả Chương trình 02-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội khóa XV về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên và phân công công tác cho đảng viên. Trọng tâm vào tăng cường công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và chi bộ, đổi mới nội dung, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, phân công nhiệm vụ cho đảng viên, nâng cao vai trò, trách nhiệm của chi, Đảng bộ trong lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, giáo dục, quản lý đảng viên. Nâng cao tính chiến đấu của tổ chức Đảng, đưa tự phê bình và phê bình đi vào nền nếp thường xuyên trong sinh hoạt đảng; đảm bảo chấp hành nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ.

Củng cố tổ chức và hoạt động của các tổ chức đảng trong doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp tư nhân. Thực hiện tốt quản lý đảng viên và đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng nơi công tác và chi bộ, nhân dân nơi cư trú.

b- Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng đối với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện:

Nâng cao chất lượng chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy Đảng từ huyện đến cơ sở đối với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và quản lý đô thị. Tăng cường công khai, minh bạch các thông tin quy hoạch, các quyết định và hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp; thực hiện nghiêm túc, có nề nếp công tác đối thoại giữa các cơ quan Đảng, chính quyền với doanh nghiệp và nhân dân trên địa bàn.

Tập trung lãnh đạo xây dựng môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi để thu hút các nguồn lực trong và ngoài địa bàn đầu tư vào Đông Anh, thực hiện các mục tiêu phát triển mà quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội huyện đã đề ra.

c- Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng:

Xây dựng các chương trình hành động về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, trọng tâm là thực hiện giám sát theo chuyên đề và giám sát việc thực hiện các chương trình, kế hoạch và nhiệm vụ trọng tâm của huyện.

Chỉ đạo tăng cường công tác giám sát, kiểm tra của Đảng, cùng với công tác giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp trong việc thực hiện chương trình cải cách hành chính mà trọng tâm là cải tiến lề lối làm việc của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; xây dựng các quy trình, cơ chế phối hợp, hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị, giữa các ngành, các cấp trong thực thi công việc. Đồng thời xử lý kịp thời những kiến nghị, phản ánh của nhân dân, doanh nghiệp đối với những vấn đề có liên quan đến quy định hành chính.

Chỉ đạo tập trung việc giải quyết, không để tồn đọng các đơn thư khiếu nại, tố cáo, nhất là các vụ việc nổi cộm, bức xúc, phức tạp, kéo dài. Đẩy mạnh kiểm tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; chỉ đạo đồng bộ, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng. Xử lý kịp thời, nghiêm minh đối với những trường hợp sai phạm, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Xây dựng cơ chế để nhân dân có thể thực sự tham gia giám sát, góp ý kiến hữu ích đối với cán bộ, đảng viên trong toàn huyện.

1 .2.2. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền từ Huyện đến cơ sở

Đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là rà soát các thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức. Thực hiện cơ chế một cửa từ Huyện xuống cơ sở đi vào thực chất; đổi mới lề lối làm việc, phương thức điều hành, nâng cao năng lực tổ chức thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội của chính quyền từ huyện đến cơ sở.

Coi trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý nhà nước. Triển khai có hiệu quả kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin của Thành phố. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý và cải cách hành chính để đến năm 2015 thực hiện giải quyết cơ bản các thủ tục hành chính qua mạng thông tin điện tử.

Công bố công khai và triệt để thực hiện bộ thủ tục hành chính. Tiếp tục rà soát để cắt giảm, đơn giản hóa các thủ tục hành chính của huyện.

Đổi mới và nâng cao chất lượng quản lý tài chính công, nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản công. Chỉ đạo thu ngân sách nhà nước đảm bảo thu đúng, thu đủ, có biện pháp nuôi dưỡng nguồn thu, có biện pháp tích cực để có mức thu cao. Tăng cường phân cấp thu chi ngân sách cho cơ sở. Xử lý nghiêm các hành động vi phạm Luật Ngân sách nhà nước.

Hoàn thiện thể chế giải quyết yêu cầu công việc của công dân, tổ chức, doanh nghiệp, trọng tâm là quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính liên quan trực tiếp đến các hoạt động sản xuất kinh doanh (cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà, chứng nhận cho các hộ đăng ký kinh doanh) theo hướng thông thoáng, đơn giản hóa, đảm bảo tính minh bạch, công khai, hiệu quả. Tăng cường đối thoại với công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo thẩm quyền.

 Tăng cường thanh tra công vụ và kiểm tra giải quyết thủ tục hành chính tại các cơ quan quản lý nhà nước, xây dựng chế tài mạnh và xử lý nghiêm các vi phạm.

Tiếp tục sắp xếp bộ máy hành chính, đảm bảo tinh giản và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp, ngành, tổ chức và từng công chức, cán bộ, nhân viên. Tập trung xây dựng bộ máy chính quyền các cấp từ huyện đến cơ sở vững mạnh, thực sự là chính quyền của dân, do dân, vì dân và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức theo phương châm: trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với nhân dân.

Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, tiếp tục đổi mới công tác cán bộ. Phát hiện, thu hút nhân tài, bồi dưỡng đào tạo một cách chủ động, bài bản và toàn diện đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp huyện và cơ sở. Thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, trước hết tại các phòng, ban trong huyện và cán bộ cơ sở. Chú trọng tăng cường, bổ sung cán bộ trẻ có năng lực cho chính quyền xã/ thị trấn. Thực hiện đúng các nguyên tắc, quy chế, quy trình về công tác cán bộ. Chú trọng công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ. Công khai, minh bạch quá trình tuyển dụng công chức hành chính các cấp. Từng bước thực hiện tiêu chuẩn hoá các chức danh cán bộ. Nghiên cứu, từng bước áp dụng cơ chế thi tuyển một số vị trí công chức lãnh đạo. Có cơ chế để nhân dân tham gia giám sát cán bộ và công tác cán bộ một cách hiệu quả.

Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là công chức cấp xã, đảm bảo để đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn chuyên sâu, trách nhiệm cao trong công việc được giao. Tăng cường kiểm tra, rà soát, đánh giá chất lượng hoạt động của đội ngũ công chức, xử lý kịp thời, nghiêm minh những cán bộ có sai phạm, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân. Xây dựng nếp sống văn hóa trong cán bộ, công chức, viên chức.

Thường xuyên tổ chức thanh kiểm tra công vụ trong việc thực thi nhiệm vụ, công vụ của cán bộ công chức, viên chức từ Huyện đến cơ sở. Khen thưởng kịp thời đối với cán bộ công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ và có hình thức xử lý nghiêm đối với cán bộ, công chức vi phạm và không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định.

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của HĐND huyện, xã trong việc cụ thể hóa và triển khai thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Kiện toàn tổ chức, bộ máy HĐND theo hướng tăng chất lượng, số lượng đại biểu chuyên trách; đảm bảo các điều kiện cần thiết để HĐND thực hiện đầy đủ, hiệu quả chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của ủy ban nhân dân các cấp, tập trung vào việc thể chế hóa các nghị quyết của cấp ủy, chỉ đạo của cấp trên, tăng cường hiệu lực, hiệu quả các hoạt động quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Thực hiện quản lý nhà nước về các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội phải đảm bảo đúng mục tiêu, đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và không ảnh hưởng đến hoạt động hợp pháp của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trên địa bàn huyện. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát và quản lý thị trường theo pháp luật nhằm đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, phòng chống hiệu quả các hoạt động kinh doanh trái pháp luật.

Trong quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện các quy hoạch, các chương trình, kế hoạch, dự án trên địa bàn huyện phải gắn phát triển kinh tế với giữ gìn, tôn tạo, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống Thăng Long - Hà Nội, bảo vệ, cải thiện môi trường và tăng cường tiềm lực an ninh, quốc phòng. Đảm bảo an sinh và công bằng xã hội. Trong quá trình lập kế hoạch, bố trí ngân sách hàng năm phải dành tỷ lệ hợp lý cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội.

1.3 - GIẢI PHÁP TỔ CHỨC TRIỂN KHAI THỰC HIỆN TỐT QUY HOẠCH

Để hiện thực hóa các mục tiêu, nội dung của phương án quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội huyện đến năm 2020, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của các cấp ủy đảng, chính quyền và sự đồng thuận triển khai thực hiện tốt của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác trên toàn địa bàn huyện.

Sau khi được UBND Thành phố phê duyệt, phương án quy hoạch sẽ là định hướng cơ bản cho sự phát triển kinh tế - xã hội huyện Đông Anh trong thời gian đến năm 2020, định hướng đến 2030. Phải thực hiện tốt việc lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện quy hoạch ngay từ thời gian đầu sau khi quy hoạch được duyệt. Cần quán triệt một số quan điểm và giải pháp sau:

- Nhanh chóng phổ biến nội dung quy hoạch và tuyên truyền thực hiện quy hoạch một cách rộng rãi tới mọi đối tượng công dân, cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn huyện bằng những hình thức thông tin thích hợp và đa dạng, như website của UBND huyện, panô, bản đồ lớn, phương tiện truyền thông của huyện và thành phố... Thông tin quy hoạch là cần thiết nhưng cần tránh những hình thức tuyên truyền mang tính phô trương mà hiệu quả truyền thông không cao.

Để việc tuyên truyền thực hiện quy hoạch được tốt, có kết quả, điều đầu tiên và quan trọng nhất là cần công khai qui hoạch, nhanh chóng phổ biến quy hoạch một cách rộng rãi tới mọi đối tượng công dân, cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn. Thực tế là một số nơi chưa làm tốt việc công khai quy hoạch cho người dân, nhân dân chưa được biết quy hoạch, không được bàn việc triển khai quy hoạch dẫn đến những thắc mắc, thậm chí có thể dẫn đến khiếu kiện gây mất ổn định, tiến độ thực hiện qui hoạch chậm.

- Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện quy hoạch. Tiến hành xây dựng chương trình hành động cụ thể để từng bước thực hiện quy hoạch. Cụ thể hóa các mục tiêu của quy hoạch bằng các kế hoạch 5 năm, hàng năm để thực hiện quy hoạch có hiệu quả. Hàng năm có đánh giá việc thực hiện quy hoạch, trên cơ sở đó tiến hành rà soát, kiến nghị việc điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong từng thời kỳ

- Trên cơ sở quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội huyện được duyệt, sớm triển khai rà soát và xây dựng mới các quy hoạch chi tiết trên địa bàn huyện thuộc mọi lĩnh vực kinh tế xã hội.

- Kiên quyết chỉ đạo thực hiện theo quy hoạch. Không cấp phép đầu tư cho các dự án không có trong quy hoạch; không cấp phép xây dựng cho các công trình không có quy hoạch chi tiết...

- Theo định kỳ hàng năm và từng kế hoạch 5 năm cần đánh giá về việc thực hiện quy hoạch đã được phê duyệt. Làm tốt công tác này sẽ cho phép phát hiện kịp thời những vấn đề mới nảy sinh để bổ khuyết hoặc điều chỉnh kịp thời, đảm bảo tốt các mục tiêu quy hoạch đề ra.

- Phát huy vai trò của cộng đồng tham gia thực hiện quy hoạch. Ở nhiều nước trên thế giới quá trình lập quy hoạch, tổ chức thực hiện quy hoạch có sự tham gia của cộng đồng đã trở thành thông lệ. Ở nước ta, vai trò của cộng đồng tham gia thực hiện quy hoạch cũng đang ngày càng được coi trọng và cần được phát huy mạnh mẽ.

 

                                                                                                                                                                                              Biên tập: Thế Vĩnh